Có những ngày đi qua đời người rồi mà không bao giờ đi qua được ký ức. Với tôi, ngày 2 tháng 9 năm 1969 là một ngày như thế.

Năm ấy, tôi là cậu học sinh lớp 10A, Trường cấp III A Hải Hậu. Chúng tôi còn rất trẻ. Tuổi học trò khi ấy phần nhiều chỉ biết đến trang sách, mái trường, những buổi học và những ước mơ còn chưa thành hình. Vậy mà một buổi sáng mùa thu, chiến tranh và lịch sử bỗng bước vào sân trường, rất gần, rất thật. Chúng tôi dự lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi vẫn nhớ hôm ấy trời mưa. Mưa suốt cả tuần. Những cơn mưa dầm dề của miền quê đồng bằng Bắc Bộ làm sân trường nhão nước. Qua chiếc đài truyền thanh của nhà trường, giọng đọc thơ Tố Hữu vang lên:
“Bác ơi!
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…”
Sân trường đẫm nước. Và khoé mắt chúng tôi cũng đẫm nước. Những cậu học trò mười bảy, mười tám tuổi hôm ấy có lẽ chưa ai hiểu hết thế nào là mất mát của một dân tộc khi mất đi vị lãnh tụ của mình. Nhưng chúng tôi biết mình vừa mất một người rất lớn. Một người mà tên tuổi đã trở thành một phần của đất nước, của cuộc đời chúng tôi.
Khi ấy, thông tin chính thức được công bố là trái tim Người ngừng đập lúc 9 giờ 47 phút ngày 3 tháng 9 năm 1969. Sau này, lịch sử được công bố lại: Người đã đi xa vào ngày 2 tháng 9 năm 1969, đúng ngày Quốc khánh, tức ngày 21 tháng 7 năm Kỷ Dậu.
Tôi nghĩ về sự trùng hợp kỳ lạ ấy. Người về với thế giới bên kia đúng vào ngày Người đã khai sinh ra một nước Việt Nam mới. Có cái gì đó như trong cổ tích.
Một đời người khép lại đúng vào ngày đất nước mở ra một trang sử mới.
Nhưng với chúng tôi ngày ấy, chỉ có một nỗi buồn rất thật.
Sau lễ truy điệu không lâu, những trang sách còn đang dang dở, chúng tôi gác bút nghiên lên đường. Tôi mang theo hình ảnh sân trường Hải Hậu trong mưa, mang theo tiếng thơ Tố Hữu, mang theo những giọt nước mắt của tuổi học trò trên suốt chặng đường hành quân.
Hơn ba tháng vượt Trường Sơn. Rồi những tháng ngày đằng đẵng chiến đấu ở Đông Nam Bộ, ở Đồng bằng sông Cửu Long…
Có những đêm giữa rừng, giữa tiếng bom đạn và những cơn sốt, tôi bất chợt nhớ mái trường. Nhớ thầy cô. Nhớ bạn bè. Nhớ một sân trường ướt nước mưa…
Và nhớ Người.
Năm nay, 57 năm sau ngày ấy, tôi ở một đất nước rất xa Việt Nam. Từ một quốc gia Bắc Âu, tôi hướng lòng mình về ngày giỗ Bác. Điều kỳ lạ là ngày 21 tháng 7 âm lịch năm nay lại rơi đúng vào ngày 2 tháng 9.
Một sự trùng hợp khiến người ta không khỏi bâng khuâng. Cũng thật lạ, những ngày này, Na Uy đang chìm trong quốc tang của nhà vua. Trời cũng đầy mưa.
Người dân Na Uy cũng đầy nước mắt.
Tôi đứng từ xa nhìn những dòng người lặng lẽ bày tỏ lòng tiếc thương trước sự ra đi của vị quân vương. Tôi không dám nói mình hiểu hết công ơn của Đức vua đối với thần dân Na Uy. Nhưng nhìn cách người dân nơi đây tiễn biệt Ngài, tôi nghĩ: một con người được dân tin, dân kính, dân thương, khi ra đi nhất định để lại một khoảng trống trong lòng cộng đồng.
Mưa của Na Uy hôm nay bỗng làm tôi nhớ mưa Hải Hậu năm xưa. Hai đất nước.
Hai dân tộc. Hai vị lãnh đạo.
Hai hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Nhưng nước mắt của con người, trong những giờ phút tiễn biệt một người mà họ kính yêu, dường như ở đâu cũng có chung một vị mặn.
Tôi đứng giữa phương Bắc, mà lòng hướng về Hà Nội. Hướng về nơi có trái tim của Tổ quốc. Tôi thắp một nén tâm nhang trong tâm tưởng.
Không có khói hương. Không có bàn thờ. Chỉ có một người già đứng giữa trời Bắc Âu, lặng lẽ nhớ về một cậu học sinh của 57 năm trước. Cậu học sinh ấy ngày nào giờ đã đi gần hết một đời người.
Nhưng kỳ lạ thay, ký ức thì vẫn còn nguyên. Tôi vẫn nhìn thấy sân trường năm ấy. Vẫn thấy thầy cô.
Vẫn thấy những người bạn cùng lớp. Vẫn nghe giọng thơ Tố Hữu từ chiếc loa của nhà trường:
“Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…”
Và tôi vẫn thấy khoé mắt của mình cay cay.
Có lẽ, đời người càng đi xa càng hiểu rằng có những cuộc chia tay không chỉ thuộc về một ngày. Nó đi theo ta suốt cả cuộc đời.
Ngày Bác mất, chúng tôi mới chỉ là những cậu học trò. Sau đó, chúng tôi trở thành những người lính. Có người đi qua chiến tranh và trở về. Có người nằm lại trên những cánh rừng, những dòng sông, những miền đất xa xôi; trong đó có bạn đồng môn thân thiết của tôi: Vũ Viết Vô… Có người không kịp nhìn thấy ngày đất nước thống nhất. Có người trở về nhưng một phần tuổi trẻ đã nằm lại ở Trường Sơn.
57 năm đã trôi qua. Một đời người. Những mái đầu xanh ngày ấy nay đã bạc. Những bước chân từng đi qua Trường Sơn nay đã chậm. Những người bạn năm xưa, nhiều người đã không còn. Có bao nhiêu người trong chúng tôi, những cậu học trò của 57 năm trước, đã không trở về? Câu hỏi ấy cứ ở lại. Như một tiếng gọi từ rất xa.
Ngoài kia, trời Na Uy vẫn mưa. Tôi đứng lặng. Và trong màn mưa phương Bắc, tôi bỗng thấy lại sân trường Hải Hậu của 57 năm trước.
Cũng mưa. Cũng những giọt nước mắt. Cũng những con người còn rất trẻ.
Chỉ có điều, khi ấy chúng tôi chưa biết rằng từ sân trường ấy, mỗi người sẽ mang theo một phần lịch sử của đất nước trên suốt cuộc đời mình.
57 năm sau, tôi mới hiểu: Có những người ra đi đã trở thành lịch sử. Có những người ở lại mang lịch sử đi qua một đời người. Và chúng tôi, những cậu học trò năm ấy, có lẽ may mắn hơn nhiều người khác ở chỗ vẫn còn được sống để nhớ.
Nhớ một ngày mưa. Nhớ một mái trường. Nhớ những người đã nằm lại. Và nhớ Người- vị Cha già dân tộc – Người Cha thân yêu của LLVT VN.
Từ rất xa, tôi cúi đầu. Bác ơi!
57 năm rồi. Mưa vẫn rơi.
Và trong lòng một người lính già, nước mắt của tuổi mười tám dường như vẫn chưa khô.
ÔSLO- Na Uy
2-9-2026
TTT


